Giá đương quy tươi
Đương quy tươi giá: 180,000VNĐ/kg
Đương quy là gì?
Đương quy là rễ phơi hay sấy khô của cây đương quy. Quy là về, vì vị thuốc này có tác dụng điều khí, nuôi huyết, làm cho huyết đang loạn xạ trở về chỗ cũ, do đó có tên như vậy.
- Tên gọi khác: Tần quy, vân quy, Quy, Đương qui, Tây dương quy, Toàn đương quy, Đương quy thân, Bạch quy thân, Đương quy vĩ, Đương quy tu, Du đương quy,Tửu sao đương quy, Thổ sao dương quy.
- Tên khoa học: Angelica sinensis (Oliv.) Diels, (Angelica polymorpha Maxim. var. sinensis Oliv).
- Thuộc họ Hoa tán apraceae (Umbelliferae).
Mô tả thực vậy cây đương quy
Đương quy là một loại cây nhỏ, sống lâu năm, cao chừng 40-80cm, thân màu tím có rãnh dọc. Lá mọc so le, 2-3 lần xẻ lông chim, cuống dài 3-12cm, 3 đôi lá chét; đôi lá chét phía dưới có cuống dài, đôi lá chét phía trên đỉnh không có cuống; lá chét lại xẻ 1-2 lần nữa, mép có răng cưa, phía dưới cuống phát triển dài gần 1/2 cuống, ôm lấy thân. Hoa rất nhỏ màu xanh trắng họp thành cụm hoa hình tán kép gồm 12-40 hoa. Quả bế có rìa màu tím nhạt. Ra hoa vào tháng 7-8.
Kỹ thuật trồng cây đương quy
Trích sách Cây Thuốc Việt Nam - Lương y Lê Trần Đức, nhà xuất bản Dân Trí.
Kỹ thuật làm đất trồng đương quy
Cách trồng đương quy cũng giống như trồng bạch chỉ. Đất phải cây thật sâu để ải, bừa kỹ cho đất nhỏ, sạch cỏ, lên luống cao, bón lót.
Cách xử lý hạt giống đương quy
Hạt dùng độ 100g cho một sào, trước khi gieo nên ngâm nước ấm (1 lit nước sôi pha 3 llt nước lạnh) độ 1 ngày vớt ra hong khô 1 đêm rồi dem gieo.
Phương pháp trồng đương quy
Gieo theo cách vài đều trên mặt luống để sau tỉa bớt cây con là tốt nhất, hoặc rải theo hàng rạch cách nhau độ 30cm theo hướng đông tây cho thoáng gió và bổ hốc cách nhau độ 5cm, trỉa mỗi hốc độ 5-3 hạt. Sau khi gieo cần phù lên hạt một lớp đất mùn dây độ 1,5cm, rồi tủ một lớp rạ mỏng để giữ độ âm đều cho hạt nảy mầm. Lúc cây con mọc cao độ 1,5cm thì bỏ bớt rơm rạ, đến khi cây cao độ 3cm thì bộ hết rơm rạ Phải chăm sóc tưới nước nếu trời khô hạn và nhổ cỏ nhẹ nhàng tránh lay long gốc cây. Khi cây cao đến 7-10cm thì tỉa bớt chỗ dày, đem giậm vào chỗ thưa hoặc bứng cây con trồng thêm chỗ khác, định dằm cho cây cách nhau khoảng 20x15cm. Khi trồng lại đặt cây con thấp hơn mặt đất, lèn chặt gốc, nếu để ngọn cây cao quá mặt đất thì cây dễ bị chết khô. Trồng xong tưới nước cho cây bén rễ
Làm cỏ, phân bón và phòng trừ sâu bệnh
- Cây đương quy hay bị chuột đồng án hại, phải bẫy chuột, hay làm thuốc để trừ chuột, dùng hạt mã tiền giã nhỏ rang thơm với thịt hay cua đồng nướng thơm, trộn với cơm mà bả chuột.
- Cây đương quy không chịu được sương muối, phải trừ hại bằng cách phun nước là hay nước phèn chua pha loàng để rửa cho cây sau những đêm có sương muối.
- Chống bệnh thối rễ, bệnh gỉ sắt và trừ sâu hại chủ yếu là bọ xít, rệp đỏ… Có thể dùng thuốc trừ sâu trộn với đất mùn rắc vào quanh gốc cây. Không rắc trực tiếp vào cây.
Phân bố, thu hái và bào chế đương quy
Đương quy phân bố ở đâu
Đương quy ở Việt Nam hiện được trồng khá rộng rãi tại một số tỉnh phía bắc như Lào Cai, Sơn La, Hà Giang. Ngoài ra ở Tây Nguyên cũng đã được trồng với diện tích tương đối lớn như ở Gia Lai, Lâm Đồng.
Nhưng mới đây chúng ta đã trồng thành công đương quy ở vùng đồng bằng quanh Hà Nội do lợi dụng thời tiết lạnh của mùa rét, tuy nhiên chất lượng có khác.
Tại Trung Quốc, đương quy được trồng nhiều nhất ở các tỉnh Cam Túc, Tứ Xuyên, Vân Nam, Thiểm Tây.
Phương pháp thu hái đương quy
Khi trồng đương quy, sau 8 tháng khi thấy cây là vàng úa thì thu hoạch. Thu hoạch vào thời gian trời khô nắng, dùng cuốc đào sâu, tránh làm sây sát, gãy củ. Đem về cất bỏ thân chồi, vứt bỏ rễ tơ, rửa sạch rồi phơi ở nắng yếu, trong râm hoặc làm giàn rải lên
Ngoài ra ở những vùng quá lạnh, hàng năm vào mùa Thu gieo hạt, cuối Thu đầu Đông nhổ cây con cho vào hố ở dưới đất cho qua mùa Đông. Qua mùa Xuân lại trồng, đến mùa Đông lại bảo vệ. Đến mùa Thu măm thứ 3 có thể thu hoạch. Đào rễ về cắt bỏ rễ con, phơi trong nhà hoặc cho vào trong thùng, sấy lửa nhẹ, cuối cùng phơi trong mát cho khô.
Phương pháp bào chế đương quy
Trích sách phương pháp bào chế dược liệu - NXB Y học
Bộ phận dùng làm thuốc:
Rễ, thường gọi là củ loại có đầy đủ cả thân và rễ gọi là Toàn đương quy hay Toàn quy, loại đã cắt bỏ rễ gọi là Độc quy, Xuyên quy là loại trong ở tinh Tứ Xuyên Trung Quốc là loại có chất lượng tốt nhất, loại chắc, dẻo, trong trắng hồng, củ to, có mùi thơm, không mốc mọt là loại tốt, Đương quy thường chia ra: Lai quy là loại không chính quy, không tốt.
Toàn quy thường chia ra:
Quy đầu: Lấy một phần ở phía đầu. Quy thân: Là phần giữa đã bỏ đẩu và đuôi (rễ). Quy vĩ: Là phẩn rễ nhánh.
Cách bào chế:
Theo Lôi công bào chế: Sau khi thu hoạch, rửa sạch để ráo nước, sau đó rửa bằng rượu, cắt bỏ dầu thái mỏng, tấm rượu một đêm dùng làm thuốc.
Theo Việt Nam: Sau khi thu hoạch, rửa sạch để ráo nước, thái mỏng ủ một đêm dùng, Việt Nam thường dùng sống để giữ được lâu, sau khi để ráo nước sấy khô để chống mốc, nếu mốc thì phải rửa bằng rượu rồi sấy. Đương quy có thể sấy bằng hơi diêm sinh để chống mốc mọt. Nếu Quy bé thì sau khi rửa sạch, ép lại thành miếng. Quy to, thái thành miếng to đẹp.
Thành phần hóa học trong Đương Quy
Trong đương quy có tinh dầu. Có tác giả đã xác định tỷ lệ tinh dầu là 0,2%, tinh dầu có tỷ trọng 0,955 ở 15oC, màu vàng sẫm, trong; tỷ lệ axit tự do trong tinh dầu chiếm tới 40%
Trong tinh dầu thành phần chủ yếu là n-butylidenphtalit và n-valerophenon O-cacboxy-axit . Ngoài ra còn có n-butylphtalit , becgapten , sesquitecpen, safrola và một ít vitamin B12.
Đương quy có tác dụng gì
Trích sách cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - GS Đỗ Tất Lợi
Đương quy đã được nghiên cứu về mặt dược lý từ lâu. Sau đây là một số tác dụng chủ yếu.
Tác dụng trên tử cung và các cơ trơn:
Trên tử cung, đương quy có 2 loại tác dụng, một loại gây kích thích và một loại gây ức chế. Theo Schmidt, Y Bác An và Trần Khắc Khôi (1924 Chinese Med.J. 38:362) thì hoạt chất chiết từ toàn bộ vị đương quy (dùng nước đun sắc hoặc rượu nhẹ độ thấm kiệt), tiêm cho chó đã gây mê (tĩnh mạch) thì thấy đối với tử cung 10 con không có chửa có 37,5% hiện tượng co; đối với chó có chửa hoặc đẻ không lâu thì 100% hiện tượng co tử cung. Đối với các cơ quan có cơ trơn khác như ruột, bàng quang cũng có hiện tượng đó, đồng thời huyết áp hạ thấp và có tác dụng lợi tiểu (do tỷ lệ sacaroza cao trong thuốc). Nếu như dùng tinh thể (không có tính chất bay hơi, không có đường và kiềm tính) chiết từ đương quy ra để tiêm vào tĩnh mạch thỏ thì cũng thấy sức co bóp của tử cung tăng mạnh, nhưng huyết áp không hạ thấp mà lại tăng cao; nếu dùng tinh thể nói trên pha với dung dịch Tyrốt thành 1/2.000.000, rồi thí nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ thì cũng thấy hiện tượng co bóp kéo dài; dung dịch pha loãng 1/100.000 cũng làm cho mẩu ruột cô lập của thỏ co bóp mạnh. Các tác giả cho rằng tính chất kích thích này do tác dụng trực tiếp trên cơ trơn.
Theo Lưu Thiệu Quang, Trương Phát Sơ và Trương Diệu Đức (Trung Hoa y học tạp chí 21:611; 1935) thì đã dùng tinh dầu của đương quy tiến hành 88 lần thí nghiệm trên tử cung cô lập của động vật và phát hiện thấy đối với tử cung cô lập của thỏ, chó và chuột bạch (có chửa hay không có chửa) với nồng độ 1/50 có tác dụng giãn nghỉ, nhưng tác dụng nhanh và kéo dài, nếu rửa hết thuốc thì tính chất khẩn trương lại khôi phục lại, như vậy chứng tỏ tinh dầu đương quy không làm thương tổn nhiều đối với cơ của tử cung. Với nồng độ 1/25 thì sự co của tử cung lập tức đình chỉ; với nồng độ 1/100 thì hơi có tác dụng giãn nghỉ. Tác dụng trên của đương quy ngược lại với tác dụng của tuyến yên và của histamin, tức là sau khi tác dụng bằng atropin sunfat thì có thể xuất hiện, do đó cho rằng tác dụng của đương quy không do tác dụng trên hệ thống thần kinh mà do tác dụng trực tiếp ức chế trên cơ trơn của tử cung và do tác dụng trực tiếp trên cơ của tử cung này mà chữa bệnh thống kinh, so với atropin thì an toàn hơn.
Nhưng năm 1949 (Trung Hoa y học tạp chí, 35:353) Trương Xương Thiệu cho rằng xem tính chất trực tiếp ức chế cơ trơn của tử cung là đại diện cho cách tác dụng của đương quy chưa được đúng đắn.
Kinh nghiệm dùng đương quy trên lâm sàng cho biết đương quy có tác dụng làm dịu tử cung co quắp.
Theo báo cáo của Dương Đại Vọng, Triệu Túc Quân (1948 Trung Hoa y học tạp chí, 34:457) đã dùng đương quy chữa cho 129 bệnh nhân thống kinh (kinh nguyệt đau đớn) tất cả đã dùng 257 lần thì thấy kết quả tốt, không có triệu chứng nào không tốt, lại làm tăng sự phát dục của tử cung.
Các tác giả đề xuất ra 3 loại tác dụng của đương quy:
(1) Ức chế sự co của tử cung, làm giãn nghỉ sự căng của tử cung, trực tiếp làm cho hành kinh không đau.
(2) Do cơ tử cung giãn nghỉ, huyết lưu thông mạnh, do đó có tác dụng cải thiện sự dinh dưỡng tại chỗ, làm cho tử cung chóng bình thường, gián tiếp chữa chứng thống kinh (thấy kinh đau đớn).
(3) Đương quy có tác dụng làm cho ruột trơn và có thể chữa táo bón, làm giảm sung huyết vùng xương chậu do đó tham gia làm giảm đau trong lúc kinh nguyệt.
Năm 1954 Ngô Bảo Sam và những người cộng tác đã báo cáo dùng đương quy mua ở Thượng Hải chế thành nước sắc, cồn thuốc, chiết bằng ête dầu hỏa, ête sunfuric, clorofoc, cồn nguyên chất và cồn 70oC. Với 8 loại chế phẩm đó thí nghiệm trên tử cung cô lập, tử cung tại chỗ và theo phương pháp trường diễn của Reynolds (1929) thì thấy cả 8 loại đều làm tăng tính tiết luật của tử cung cô lập thỏ, làm giảm trương lực (tonus); liều lớn thì hoàn toàn ức chế; nếu tiêm vào tĩnh mạch súc vật đã gây mê (mèo, chó, thỏ) thì thấy sự co của tử cung tại chỗ được tăng mạnh, đồng thời huyết áp hạ xuống; nếu tiêm tĩnh mạch những con thỏ theo dõi theo phương pháp Reynolds (mãn tính, trường diễn) thì thấy có tác dụng hưng phấn.
Dùng nước sắc đương quy với liều 300, 150, 30, 15 mg trên 10g thân thể tiêm vào màng bụng chuột nhắt và thuốc chiết bằng ête dầu hỏa với liều 200, 100, 50 mg trên mỗi con chuột, tiêm dưới da chuột nhắt đều không thấy tác dụng của các nội tiết tố nữa.
Năm 1954 (Trung Hoa y học tạp chí, 9; 670-682), Lã Phú Hoa, Ngô Hy Đoan và Hồng Sơn Hải báo cáo đã dùng một loại đương quy (có lẽ là Ligusticum acutilobum) chế thành thuốc sắc, cất kéo hơi nước và chiết bằng ête thí nghiệm trên tử cung cô lập, tử cung tại chỗ và trên tử cung trường diễn, cũng đi đến kết quả gần như kết quả của Ngô Bảo Sam kể trên và các tác giả đề xuất rằng đương quy có hai loại tác dụng hưng phấn và ức chế. Chất có tác dụng ức chế có trong đương quy chủ yếu nằm trong phần bay hơi được, có độ sôi 189oC-210oC ở 5mm thủy ngân, thành phần này trong quá trình sắc thuốc thông thường vẫn được áp dụng trong nhân dân thường không bị bay đi nhiều. Thành phần có tác dụng hưng phấn tan trong nước, trong rượu êtylic, không tan trong ête là chất không bay hơi.
Năm 1954, Chu Nhan (Trung dược đích dược lý dữ ứng dụng), đã đề xuất rằng đương quy có hai tác dụng, thành phần tan trong nước, không bay hơi, có tinh thể, có tác dụng hưng phấn cơ tử cung, làm cho sự co bóp tăng mạnh; thành phần bốc hơi có tác dụng ức chế cơ tử cung, làm cho tử cung giãn nghỉ, nếu muốn làm cho có tác dụng co bóp tử cung thì cần sắc thuốc có đương quy lâu để trừ bỏ bớt phần bay hơi; trái lại nếu muốn làm cho tử cung giãn nghỉ thì chỉ nên sắc rất chóng để bảo vệ phần bay hơi.
Tác dụng trên hiện tượng thiếu vitamin E:
Theo Nghê Chương Kỳ (1941 Chinese J. physiol. 16; 373) dùng thức ăn thiếu vitamin E nuôi chuột trong 2-5 tháng, 100% chuột bị bệnh thiếu vitamin E với những chứng bệnh ở tinh hoàn; nếu thêm vào thức ăn 5-6% đương quy thì 38% chuột không có những triệu chứng thiếu vitamin E nữa.
Các vị thuốc dâm dương hoắc, đan sâm, tục đoạn và xuyên khung cũng có tác dụng tương tự, Nghê Chương Kỳ suy luận rằng nhân dân sở dĩ dùng đương quy làm thuốc an thai phải chăng có quan hệ tới loại tác dụng này.
Tác dụng trên trung khu thần kinh:
Theo sự nghiên cứu của một tác giả Nhật Bản (Tửu tinh hòa thái lang, 1933) tinh dầu của đương quy có tác dụng trấn tĩnh hoạt động của đại não, lúc đầu thì hưng phấn trung khu tủy sống, sau tê liệt, đưa đến huyết áp hạ thấp, nhiệt độ cơ thể hạ thấp, mạch đập chậm lại và có hiện tượng co quắp; nhưng nếu tiêm dưới da thỏ thì các hiện tượng trên không rõ rệt, chỉ thấy liệt hô hấp trước, rồi đến liệt tim.
Tác dụng trên huyết áp và hô hấp:
Theo Schmidt. Y Bác An và Trần Khắc Khôi (1924 Chinese Med. J. 38; 362) tinh dầu của đương quy có tác dụng hạ huyết áp, nhưng thành phần không bay hơi của đương quy lại có tính chất làm co cơ trơn ở thành mạch máu làm cho huyết áp tăng cao.
Lưu Thiệu Quang, Trương Phát Sơ, Trương Diệu Đức (1935 Trung hoa y học tạp chí 21:611) đã theo dõi tác dụng của tinh dầu đương quy trên thỏ, mèo, chó đối với huyết áp và hô hấp thì thấy tùy theo liều lượng lớn, nhỏ tinh dầu tiêm vào mạch máu mà tác dụng có khác nhau.
a) Liều nhỏ: Huyết áp hơi hạ thấp, hô hấp hơi bị kích thích hoặc bị ảnh hưởng rất ít.
b) Liều trung bình: Huyết áp hạ thấp nhiều hơn, hô hấp khó khăn.
c) Liều lớn: Huyết áp hạ rất mạnh, hô hấp khó khăn rõ rệt, cuối cùng hô hấp ngừng lại, gây chết.
Tác dụng làm hô hấp khó khăn đối với thỏ ít hơn so sánh với mèo và chó, cho nên có thể nói độ độc của đương quy đối với huyết áp hay hô hấp rất thấp.
Tác dụng trên cơ tim:
Theo Ngụy Liên Cơ (1950 Sinh lý học báo 20 (2); 105-110 - Trung văn) thì tác dụng trên tim của đương quy giống tác dụng của quinidin. Thành phần chủ yếu có tác dụng này nằm trong phần tan trong ête êtylic.
Tác dụng kháng sinh:
Năm 1950, Lưu Quốc Thanh đã báo cáo nước sắc đương quy có tác dụng kháng sinh đối với trực trùng lỵ và tụ cầu trùng.
Các bài thuốc chữa bệnh từ đương quy
Theo Đông y: Đương quy vị ngọt, cay, tính ôn; vào 3 kinh Tâm, Can, Tỳ. Có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông trong Đông y. Nó là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiều đơn thuốc bổ và trị bệnh khác. Chủ yếu dùng chữa bệnh kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng; trước khi thấy kinh 7 ngày thì uống. Ngày uống 6-15g dưới dạng thuốc sắc (chia làm 2 lần uống trong ngày) hoặc dưới dạng thuốc rượu mỗi lần 10 ml, ngày uống 3 lần. Uống luôn 7-14 ngày.
Chữa suy nhược cơ thể, kinh nguyệt không đều
Bài tứ vật (tứ vật thang): Đương quy, thục địa (hay sinh địa) - mỗi vị 12g, bạch thược 8g, xuyên khung 6g, nước 600ml, sắc còn 200 ml; chia làm 3 lần uống trong ngày. Làm thuốc chữa thiếu máu, cơ thể suy nhược, kinh nguyệt không đều, đau ở rốn, đẻ xong máu hôi chảy mãi không ngừng. Đối với phụ nữ sau khi đẻ lắm bệnh có khi người ta dùng bài tứ vật nói trên thêm hắc can khương, hắc đậu (đậu đen), trạch lan, ngưu tất, ích mẫu, bồ hoàng.
Bổ huyết cho phụ nữ sau khi sinh
Đương quy 7g, quế chi, sinh khương, đại táo - mỗi vị 6g, thược dược 10g, đường phèn 50g, nước 600 ml, sắc còn 200 ml; chia 3 lần uống trong ngày.
Chữa chảy máu cam không ngừng:
Đương quy sao khô tán nhỏ, mỗi ngày dùng 2-3 lần, mỗi lần dùng 4g; dùng nước cháo mà chiêu thuốc.
Chữa mất ngủ, nhức đầu, ngủ hay mê:
Đương quy 100g, viễn chí 40g, xương bồ 40g, táo nhân 60g, ngũ vị 60g, khởi tử 80g, đởm tinh 40g, thiên trúc hoàng 40g, long cốt 40g, ích trí nhân 60g, hổ phách 40g, nhục thung dung 80g, bá tử nhân 60g, chu sa 40g, hồ đào nhục 80g; tất cả tán thành bột, thêm mật ong vào viên thành viên, mỗi viên nặng chừng 4g. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên. Uống luôn 15 ngày (Bài thuốc kinh nghiệm Trung Quốc). Đã áp dụng thấy kết quả tốt ở bệnh viện Bạch Mai. Mất ngủ khỏi 85%, váng đầu khỏi 78,65%, ngủ mê đạt 77,22%, đau đầu đạt 79,59%.
Trị các bệnh về răng miệng, môi miệng sưng đau, chảy máu:
1,6g đương quy, 1,6g sinh địa, 2g thăng ma, 1,2g hoàng liên, 1,2g mẫu đơn, thêm thạch cao nếu đau nhiều. Sắc uống.
Trị sốt rét lâu không khỏi:
12g đương quy, 10g ngưu tất, 12g miết giáp, 6g quất bì, 3 lát gừng sống. Cho nước vừa đủ sắc còn 1/3, chia uống 2 lần sáng và tối trước khi đi ngủ.
Trị ra mồ hôi trộm
12g đương quy, 10g hoàng kỳ, 8g sinh địa, 8g thục địa, 6g hoàng cầm, 6g hoàng liên, 6g hoàng bá. Sắc còn 1/3, uống 2 lần sáng và tối trước khi đi ngủ.
Trị chứng mất ngủ:
12g đương quy, 8g toan táo nhân, 10g viễn chí, 10g nhân sâm, 10g phục thần. Sắc uống như trên.
Trị viêm tuyến tiền liệt:
15g hạt quýt, 15g hạt vải, 15g đương quy, 50g thịt dê. Nấu lên, ăn thịt, uống nước, tuần ăn 2 lần. Ngoài ra, bạn cũng có thể sắc nước uống với bài thuốc sau: 25g lá hành, 8g đương quy, 5g trạch lan.
Trị bệnh động mạch vành:
10g đương quy, 90g sơn tra, 15g ngó sen, 6g rễ hành. Tất cả cho vào nồi nấu với một ít nước. Uống 2 lần sáng và tối trong ngày.
Chữa huyết nhiệt, táo bón:
Đương quy, thục địa, đại hoàng, cam thảo, đào nhân, mỗi vị 4g, 3g sinh địa, 3g thăng hoa, 1g hồng hoa. Sắc uống.
Sâm đương quy ngâm rượu có công dụng gì
Rượu đương quy là loại đồ uống rất tốt cho sức khỏe, đặc biệt là đối với những người bị huyết áp thấp. Nếu bạn kiên trì dùng một thời gian, huyết áp sẽ trở về trạng thái ổn định.
Bạn cần chuẩn bị: 12g đương quy, 12g xuyên khung, 12g thục địa, 8g bạch thược, 8g đảng sâm, 8g hoàng kỳ, 8g phục linh, 8g cam thảo.
Cách làm đương quy ngâm rượu: lấy 5 thang thuốc với thành phần như trên ngâm với 1 lít rượu trắng. Ngâm trong thời gian 10 ngày là có thể sử dụng được. Mỗi ngày bạn uống 2 chén nhỏ vào buổi sáng và buổi tối.
Cách dùng đương quy
Liều lượng dùng
Đương quy thường được dùng với liều lượng 3 – 6g/ngày dưới dạng rễ cây thô. Liều dùng của đương quy có thể khác nhau đối với những bệnh nhân khác nhau. Liều lượng dựa trên tuổi của bạn, tình trạng sức khỏe và một số vấn đề cần quan tâm khác. Đương quy có thể không an toàn. Hãy thảo luận với thầy thuốc và bác sĩ để tìm ra liều dùng thích hợp.
Tác dụng phụ của đương quy
Cây đương quy có một số tác dụng phụ bao gồm:
- Huyết áp thấp
- Chán ăn, đầy hơi, co thắt đường tiêu hóa, rối loạn tiêu hóa
- Kích ứng da, rối loạn cương dương
- Nhạy cảm với ánh sáng, có nguy cơ nhiễm độc hoặc viêm da khi tiếp xúc với ánh sáng.
Trong các trường hợp nguy cấp, người dùng sẽ bị xuất huyết nếu dùng cây đương quy chung với thuốc chống đông.
Không phải ai cũng biểu hiện các tác dụng phụ như trên. Có thể có các tác dụng phụ khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các tác dụng phụ, hãy tham khảo ý kiến thầy thuốc hay bác sĩ.

